Mỹ nghệ thành phát chuyên nhận đúc tượng đồng mỹ nghệ, bán tượng đồng mỹ nghệ, nhận đúc tượng phật bằng đồng các loại liên hệ 0963 514 966
0963 514 966
Mã sản phẩm: Bồ Tát Văn Thù Phổ Hiền Bồ Tát
Liên Hệ: 0963 514 966
Kích thước: 23 CM
Xuất sứ: ĐỒ ĐỒNG THÀNH PHÁT
Tình trạng: còn hàng
12731
Đặt hàng
Sản phẩm khác
Hệ thống cửa hàng đồ đồng Thành Phát
Địa chỉ 1: 136 - Nguyễn Chí Thanh - Đống Đa - Hà Nội
Địa chỉ 2: 88 Cầu Vượt – Phúc Diễn – QL32 – Bắc Từ Liêm – Hà Nội
Địa chỉ 3: 524 B - An Dương Vương - Phường 9 - Quận 5 - HCM
Địa chỉ 4: 128 Nguyễn Tri Phương - Phường Thanh Khê - Đà Nẵng
Pin It

Bộ tượng phật bằng đồng bốn pho:

 Quán Thế Âm Bồ Tát + Bồ Tát Phổ Hiền + Bồ Tát Văn Thù Sư Lọi Bồ tát + Bồ Tát Đại tạng vương Mục Kiến Liên

Với chiều cao 16 cm, bộ tượng này thuộc bộ nhỏ cỡ tiêu, với chất liệu đồng vàng đúc liền khối tượng diện đẹp.

Dưới đây là hình ảnh bộ tứ phật bồ tát như hình dưới.

Bồ tát văn thù phổ hiền

tượng quán thế âm bồ tát bằng đồng

tượng phật bằng đồng

văn thù sư lợi bồ tát bằng đồng

tượng phật bằng đồng

văn thù sư lợi bồ tát bằng đồng

tượng văn thù phổ hiền bồ tát

tượng đồng quán thế âm bồ tát

tượng bồ tát bằng đồng


- Ý nghĩa tên gọi Quán Thế Âm Bồ Tát.

- Quán là quán xét, thấy nghe, biết đối tượng thật rõ ràng

- Thế là cõi đời, cỏi hữu tình thế gian.

- Âm là tiếng niệm, tiếng kêu cứu, tiếng cầu nguyện từ mọi nơi đau khổ phát ra.

- Bồ Tát là độ thoát cho loài hữu tình, cứu thoát, giác ngộ cho tất cả các loài chúng sinh có tình cảm được vượt thoát ra khỏi khổ đau ách nạn.

Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đạt được diệu quả Nhĩ căn viên thông nên quán xét và nghe,
 
thấy, biết cùng tột tiếng kêu đau khổ khắp cõi thế gian, hiện ngay nơi đó để cứu độ chúng sanh được vượt thoát tất cả những hiểm nguy.

Vì vậy gọi là  Quan Thế Âm. Do công hạnh cứu độ tự tại nhiệm mầu đó, nên trong kinh điển còn gọi là Quán tự tại Bồ tát.

Quan Thế Âm Bồ Tát theo tiếng Phạn Avalokitesvara nghĩa là

 Ngài nghe tiếng kêu thầm kín thiết tha từ tâm khảm chúng sanh trong thế gian mà đến cứu khổ.
 Đem an lạc từ bi tâm vô lượng không phân biệt dến với mọi loài,

nói cách khác là tình yêu thương trìu mến vô biên gấp muôn vạn lòng dạ của bà mẹ hiền ở thế gian đối với đứa con cưng, nên gọi là Từ mẫu Quán Thế Âm.

Trong năm, có ba lễ vía Quan Thế Âm Bồ Tát

Hằng năm phật tử khắp nơi trên thế giới thường làm lễ vía Quan Thế Âm Bồ Tát thật trang nghiêm vào các ngày : 19/2, 19/6 và 19/9 đều theo Âm lịch.

- Ngày 19/2 là vía QUÁN THẾ ÂM ĐẢN SANH

- Ngày 19/6 là vía QUÁN THẾ ÂM THÀNH ĐẠO

- Ngày 19/9 là vía QUÁN THẾ ÂM XUẤT GIA


tượng bồ tát bằng đồng

- Ý Nghĩa Của Đức Bồ Tát Văn Thù Bồ Tát.

Về sự tín ngưỡng, tôn trí, thờ phụng ở những ngôi chùa Việt Nam, chúng ta thường thấy Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đứng hầu phía tay trái đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tay cầm kiếm và ngồi trên lưng con sư tử xanh. Tuy nhiên, là người con Phật, chúng ta phải đặt niềm tin và sự hiểu biết về Bồ tát Văn thù Sư Lợi như thế nào cho đúng với tinh thần Phật giáo

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi nói cho đủ theo âm Hán là Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. Đại Trí là trí tuệ (pràjnà) thấu triệt tường tận chân lý tuyệt đối. Trí này có khả năng soi rọi, chuyển hóa vô minh, phiền não, dục ái, nhiễm ô thành thanh tịnh, đưa nhận thức vượt lên mọi phạm trù đối đãi, đạt giải thoát toàn diện.

Văn Thù Sư Lợi là dịch âm từ tiếng Phạn Manjusri. Các nhà cựu dịch gọi là Văn Thù Thi Lị, còn tân dịch gọi là Văn Thù Thất Lị, gọi tắt là Văn Thù. Còn nếu dựa trên cơ sở các kinh Đại Thừa, chúng ta lại thấy rằng: Ngài có rất nhiều tên gọi khác nhau.

Như kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Niết Bàn gọi là “Diệu Đức”. Hoặc kinh Vô Hành gọi là “Diệu Thủ”. Đối với kinh Quán Sát Tam Muội, kinh Đại Tịnh Pháp Môn thì gọi là “Phổ Thủ”. Còn kinh A Mục Khư, kinh Phổ Siêu có danh xưng là “Như Thủ”. Hay kinh Đại Nhật gọi là “Diệu Cát Tường”,...

Trong Phật giáo, nhất là Phật Giáo Đại thừa, những nhân vật và hình tượng, ngoài ý nghĩa lịch sử, truyền thuyết, nó còn mang tư tưởng triết học, ẩn dụ và biểu trưng. Người học Phật chúng ta nếu không nắm bắt được tinh thần này, thì chắc chắn sự nhận thức sẽ dễ rơi vào định kiến, cực đoan và bị các quan niệm tôn giáo hữu thần đồng hóa.

Ở đây Bồ tát Văn Thù ngồi trên con sư tử xanh đều có những tính cách ẩn dụ và biểu trưng. Thế thì, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi là biểu trưng cho ý nghĩa gì?

Căn cứ vào sự luận giải của các vị cổ đức, chúng ta thấy rằng: Bồ tát Văn Thù là tiêu biểu cho căn bản trí hay nói cách khác là biểu thị cho trí, tuệ, tâm chứng. Căn bản trí là trí tuẹâ nhận thức các pháp, thấy được tính bình đẳng không hai, chứng đắc thật tướng. Lại nữa, tay cầm kiếm là tượng trưng cho trí tuệ sắc bén.

Theo đó, hình ảnh con sư tử xanh là biểu thị cho uy lực của trí tuệ. Vì con sư tử xanh là loài thú chúa ở rừng xanh, có sức mạnh và uy lực hơn tất  cả các loài thú khác. Cho nên, lấy con sư tử để biểu trưng cho năng lực vô cùng của trí tuệ. Đó cũng là trí của Phật. Bồ tát Văn Thù nhờ trí này nên đã chuyển hóa những vô minh, phiền não, những ý niệm chấp ngã, pháp trở về vô lậu và chứng chân thật tính.

Điều này được chứng minh qua kinh Thủ Lăng Nghiêm, như khi Ngài A Nan bị Ma Đăng Già, đức Phật đã bảo Bồ tát Văn Thù đem thần chú đến để cứu giải. Ở đây chúng ta thấy tại sao đức Phật không sai vị Bồ Tát khác mà lại bảo Bồ tát Văn Thù. Trên cơ sở đó chỉ có ý nghĩa đơn giản là nhờ trí tuệ siêu việt của Bồ tát Văn Thù mới có khả năng chuyển hóa được tất cả những tâm lý mê lầm lúc ấy của Ngài A Nan.

Trên tinh thần giáo dục và chuyển hóa, chân dung và phẩm tính của Bồ tát Văn Thù đã trở thành bài học ứng dụng trong đời sống thực tiễn. Do đó, tư cách của Bồ tát Văn Thù thường có ý nghĩa khai thị và thức tỉnh cho tất cả chúng sinh.

Tuy nhiên, nếu đặt vấn đề khai thị của Bồ tát Văn Thù thì lẽ đương nhiên phải khẳng định rằng: Tất cả chúng ta đều có đầy đủ căn bản trí, đầy đủ trí, tụê, chứng nhưng căn bản trí hay trí, tụê, chứng đó sở dĩ không phát huy hết công dụng.

Tại sao lại vậy? Bởi vì chúng ta không chịu tỉnh thức, không chịu trở về nhận ra kho tàng trí tuệ của chính mình. Khi hành giả nhận ra kho tàng trí tuệ tức là nhận ra đức tính Văn Thù ở chính tự tâm, nhận ra được niệm tỉnh sáng của bản giác tự tại vô ngại. Vì vậy, đồng là căn bản trí, đồng là trí, tuệ, chứng  nhưng Bồ tát Văn Thù đã thắp sáng và thể hiện đến tận cùng, còn ngược lại chúng ta thì vẫn cứ nằm trong vô minh, phiền não, khổ đau.

Chính vì thế, để xây dựng một xã hội ổn định và phát triển, hơn bao giờ hết tất cả chúng ta phải tự hóa thân mình thành những vị Bồ tát Văn Thù để dẫn đạo tình thương, trí tuệ làm cho xã hội hướng đến đời sống an lạc và hạnh phúc. Đây không phải là sự kêu gọi cho lý tưởng mà mục đích là thực tiễn hóa đời sống. Nếu con người đã hóa thân được như vậy, sẽ đem lại phúc lạc cho xã hội hiện tại và tương lai biết bao nhiêu!

Nếu chúng ta sống với trí tuệ từ bi như thế, bất cứ xã hội nào cũng sẽ rất cần. Vì chúng ta đi vào cuộc đời là để trao truyền bức thông điệp “hiểu biết và tình thương”, thực hiện lý tưởng bình đẳng trong đời sống giữa người với người, giữa người với đời sống xã hội. Và chỉ khi nào người đệ tử của đức Phật (bao gồm xuất gia, tại gia) thể hiện được điều đó thì Phật giáo mới xây dựng được niềm tin, hy vọng và nguồn an lạc cho mọi người.


tượng đồng

  - ý Nghĩa Về Phổ Hiền Bồ tát.

Khi Đức Phổ Hiền Bồ Tát chưa xuất gia học đạo, Ngài làm con thứ tư của vua vô Tránh Niệm, tên là Năng Đà Nô.

 Danh hiệu Phổ Hiền xuất hiện trước tiên trong Kinh Mạn Ðà La Bồ Tát,

về sau xuất hiện ở nhiều kinh khác như Kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa nên trở thành tín ngưỡng phổ biến

Ngài là một trong 4 vị đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc:

Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát.

Phổ Hiền Bồ Tát tượng trưng cho Lý, Ðịnh, Hành cưỡi voi trắng sáu ngà, hầu bên tay phải của đức Như Lai.

Voi trắng tượng trưng cho cho trí tuệ vượt chướng ngại, sáu ngà tượng trưng cho sự chiến thắng sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).

Trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát thứ hai mươi tám,

 Bồ Tát Phổ Hiền có nguyện với Phật về năm trăm năm sau có ai thụ trì Kinh Pháp Hoa,

Ngài sẽ cỡi voi trắng đến hộ trì, không cho ma, quỷ đến làm não hại.

Ngài dạy rằng nếu chúng sinh nào nghe danh hiệu Ngài, thấy và chạm đến thân Ngài hay nằm mộng thấy Ngài,

 hoặc tưởng niệm đến Ngài trong một ngày đêm hay nhiều hơn thì không còn thối chuyển.

Chúng sinh nào nghe thấy thân Ngài thanh tịnh thì tất được sinh trong thân thanh tịnh.

tượng đồng quán thế âm bồ tát

- Ý nghĩa của Bồ Tát Địa Tạng.

Địa Tạng Vương Bồ Tát là một vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử. Có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa.
Đó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật. Địa Tạng hay cầm Như ý châu và Tích trượng có sáu vòng, biểu hiện của sự cứu độ chúng sinh của Bồ Tát trong Lục đạo.

Tại các nước Đông Á, Địa Tạng được xem là một trong bốn vị Đại Bồ Tát (ba vị khác là Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi và Phổ Hiền) chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục.

Trụ xứ của Bồ Tát là Cửu Hoa Sơn. Tương truyền rằng, Địa Tạng đã thật sự hiện thân tại đây vào đời Đường dưới dạng một hoàng tử xứ Triều Tiên. Sau khi lâm chung, nhục thân của vị hoàng tử này không tan rữa và người ta đã xây dựng một ngôi tháp để thờ vị này, một bảo tháp mà ngày nay vẫn còn.
Trước đây vô lượng kiếp, Địa Tạng là một Bà-la-môn và đã thệ nguyện trước một vị Phật thời đó là sẽ quyết tâm tu luyện đạt Phật quả, nhưng sẽ khước từ Phật quả này khi chưa cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi luân hồi. Trong một tiền kiếp, Bồ Tát là một cô bé có một bà mẹ thường hay sát sinh để kiếm sống. Sau khi mẹ qua đời, cô bé này ngồi thiền mãi cho đến khi nghe một giọng nói, khuyên cô nên niệm danh đức Phật. Sau đó, cô nhập định, xuống ngay đến cửa địa ngục. Nơi đây, cô được cho biết rằng, chính vì công phu thiền định và niệm Phật mà cô đã cứu mẹ thoát khỏi địa ngục.
Nhờ thần thông, Địa Tạng Bồ Tát có thể biến hóa thành nhiều dạng để cứu chúng sinh trong lục độ. Trong một buổi lễ long trọng, thường là ngày thứ 100 sau khi chết, các thân nhân thường thắp hương làm lễ cầu xin Bồ Tát hướng dẫn người chết đến cõi Cực lạc của Phật A Di Đà. Sau đó, một trong những thân nhân sẽ niệm một câu thần chú để gọi người chết trở về nghe chính pháp. Lễ này được chấm dứt với sự niệm danh Phật A Di Đà và Bồ Tát Địa Tạng một lần nữa.
Trong kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện, đức Phật nói về bốn tiền thân, với bốn đại nguyện của ngài Địa Tạng như sau.
Trong vô lượng kiếp về trước, ngài Địa Tạng là một vị Trưởng giả, nhờ phước duyên được chiêm ngưỡng, đảnh lễ và được sự chỉ dạy của đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, vị Trưởng giả này đã phát đại nguyện: “Chúng sinh độ tận, phương chứng bồ đề. Địa ngục vị không thệ bất thành Phật.” Từ nay đến tận đời vị lai, tôi vì những chúng sinh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng sinh được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật quả.”
Vào thời quá khứ vô số kiếp trước, thuở đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tiền thân của Ngài là một người nữ dòng dõi Bà-la-môn có nhiều phước đức và oai lực; nhưng mẹ của cô không tin vào nhân quả tội phước, tạo rất nhiều ác nghiệp, sau khi chết bị đọa vào địa ngục. Là người con chí hiếu, cô rất thương nhớ mẹ, và đã làm vô lượng điều lành, đem công đức ấy hồi hướng cho mẹ, và cầu nguyện đức Phật cứu giúp. Nhờ các công đức chí thành ấy, đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại đã cho cô biết là mẹ của Cô đã được thoát khỏi cảnh địa ngục và vãng sanh về cõi trời. Vô cùng hoan hỉ trước tin ấy, cô đã đối trước đức Phật Giác Hoa phát nguyện: “Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát.”
Trong hằng hà sa số kiếp về trước, thuở đức Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, ngài Địa Tạng là một vị vua rất Từ bi, thương dân như con … nhưng chúng sanh lúc ấy tạo rất nhiều ác nghiệp, vị vua hiền đức này đã phát nguyện: “Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ Ðề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật.”
Vô lượng kiếp về thuở quá khứ, thời đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai, ngài Địa Tạng là một hiếu nữ tên Quang Mục có nhiều phước đức. Nhưng mẹ của Quang Mục lại là người rất ác, tạo vô số ác nghiệp. Khi mạng chung, bà bị đọa vào địa ngục. Quang Mục tạo nhiều công đức hồi hướng cho mẹ, và nhờ phước duyên cúng dường một vị A-la-hán, vị Thánh này đã cho biết rằng, mẹ của cô đã thoát khỏi cảnh địa ngục sanh vào cõi người, nhưng vẫn còn chịu quả báo sinh vào nhà nghèo hèn, hạ tiện, lại bị chết yểu… vì lòng thương mẹ và chúng sanh, Quang Mục đã đối trước đức Phật Liên Hoa Mục Như Lai phát nguyện: “Từ ngày nay trở về sau đến trăm nghìn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sinh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng sinh đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sanh và ngạ quỉ, v.v... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh giác.”
Ngoài những sự tích trong kinh nêu trên lại còn một sự tích Lịch sử Phật  giáo Hàn Quốc ghi rằng :  Ngài Địa Tạng Bồ tát tục danh Kim Kiều Giác, sinh vào thế kỷ thứ VII, năm 696 TL, tại nước Tân La, hiện nay là Hán Thành, thuộc  Hàn quốc. Ngài vốn là một Hoàng tử, sống trong lầu son nhung lụa, ở cung vàng điện ngọc, thế nhưng tính Ngài lại thích đạm bạc, không bị ảnh hưởng bởi nếp sống vương giả phong lưu đài các, mà chỉ chăm lo học hỏi và ham đọc Thánh hiền. Đức tướng trang nghiêm, lòng Từ bi thuần hậu của Ngài thì khó có ai sánh kịp. Vào năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, sau khi tham khảo hết Tam giáo, Cửu lưu và Bách gia chư tử thì Ngài bèn buông lời cảm thán: “So với Lục kinh của Nho gia, Đạo thuật của Tiên gia, thì lý Đệ nhất Nghĩa đế của nhà Phật là thù thắng hơn hết, rất hợp với chí nguyện của ta.” Sau đó lập chí xuất gia vào lúc  24 tuổi. Sau khi xuất gia, Ngài ưa đến chỗ vắng vẻ tu tập Tham thiền nhập định, nhân đây bèn nghĩ đến việc hành cước, tìm một nơi thanh vắng để tĩnh tu.

Ngài chuẩn bị thuyền bè, đem theo một ít hành trang và lương thực, đồng thời dắt theo con Bạch khuyển (chó trắng) tên Thiện Thính, đã theo Ngài từ lúc xuất gia. Ngài một mình tự lái thuyền rời bến Nhân Xuyên (Incheon), trương buồm ra khơi, tùy theo hướng gió mà đi, sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, đến cửa sông Dương Tử.

Thuyền bị mắc cạn trên bãi cát, Ngài bèn bỏ thuyền đi bộ lên bờ, tiếp tục cuộc hành trình. Sau nhiều ngày lang thang, ngài đến chân núi Cửu Tử ở huyện Thanh Dương, tỉnh An Huy. Thấy phong cảnh nơi đây hùng vĩ, sơn xuyên tú lệ, ngài bèn quyết định ở lại. Ngài đi dọc theo triền núi lên phía trên cao để khảo sát, phát giác khoảng giữa các ngọn núi là một vùng đất bằng phẳng, cảnh trí nên thơ vô cùng tịch mịch, bèn trèo lên mỏm đá bên cạnh một khe nước suối trong  và thong dong tự tại với năm tháng mà ngồi tĩnh tọa. Một hôm, đang lúc tĩnh tọa, bổng có một con rắn độc nhỏ đến cắn vào đùi, nhưng ngài vẫn an nhiên bất động. Giây lát sau, một người đàn bà tuyệt đẹp từ trên vách núi bay xuống, đến bên cúi lạy, đưa thuốc cho ngài và nói: “Đứa bé trong nhà rắn mắt, xúc phạm tôn nhan. Thiếp xin tạo một con suối mới để đền đáp lỗi lầm của cháu nhỏ.” Nói xong biến mất. Chưa đầy một sát na, trong vách núi phụt ra một dòng suối cuồn cuộn chảy xuống. Từ đó, ngài không còn phải lao nhọc đi xa gánh nước về. (Đây là dòng suối Long Nữ Tuyền nổi danh ở núi Cửu Hoa).

Tương truyền, dưới chân núi có vị Trưởng giả tên Mẫn Công còn gọi là Văn Các lão nhân, là người thích bố thí cúng dường chư tăng. Ông thường tổ chức cúng dường trai tăng hàng trăm vị. Thế nhưng, mỗi lần như thế, đều thiếu một vị Tăng. Vì vậy, mỗi lần tổ chức ông đều tự thân lên núi mời Ngài. Nếu không, công đức cúng dường không được viên thành. Không bao lâu sau, vì muốn mở rộng đạo trường để quảng độ chúng sanh, ngài Địa Tạng bèn đến xin Mẫn Công (Văn Các lão nhân) cúng dường một mảnh đất. Mẫn Công nói: “Tùy ngài muốn bao nhiêu con xin cúng bấy nhiêu.”
Ngài Địa Tạng nghe thế, tung tấm Cà sa lên không. Tấm Cà sa tỏa rộng bao trùm toàn núi Cửu Hoa. Mẫn Công thấy thế bèn vô cùng hoan hỷ, đem toàn bộ núi Cửu Hoa cúng dường. Mẫn Công có một người con trai, ngưỡng mộ đức hạnh của ngài, bèn đến xuất gia, hiệu là Đạo Minh. Sau đó, Mẫn Công vì muốn thuận tiện trong việc nghe pháp, bèn lễ bái Đạo Minh làm thầy. Việc này trở thành một giai thoại nổi tiếng trong chốn Thiền môn.

Hiện nay, trong các chùa ở Hàn quốc thờ tượng đức Điạ Tạng, phần lớn đều có tượng của cha con Văn Các lão nhân, Mẫn Công (một nhà sư trẻ và một ông lão) đứng hầu hai bên. Ngài đã lập nguyện rộng lớn, nên đến nay đã trải qua trăm nghìn muôn ức vô số kiếp, mà ngài vẫn còn làm vị Bồ Tát. Vì lòng từ mẫn xót thương mà cứu vớt, độ thoát tất cả chúng sinh mắc phải tội khổ.
Địa Tạng Vương Bồ Tát được tôn thờ rất trang nghiêm trong các chùa ở Việt Nam. Ngài là hiện thân của cứu nạn và cứu khổ cho chúng sinh ở đia ngục. Trong chánh điện các chùa tôn trí thờ Phật Thích Ca (tượng trưng cho Trí), Quán Thế Âm Bồ Tát (tượng trưng cho Bi) và Địa Tạng Vương Bồ Tát (tượng trung cho Dũng).
Hướng về ngày Vía Đức Bổn Tôn Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (29-7 Giáp Ngọ), người con Phật thể hiện tấm lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ, noi gương Địa Tạng Vương Bồ Tát theo nguyện lực của Ngài: “Chúng sinh độ tận phương chứng Bồ đề. Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”  Chúng sinh độ hết rồi, tôi mới chứng bồ đề. Địa ngục chưa trống không, tôi thề không thành Phật…

Vận chuyển hàng đi Toàn quốc các tỉnh như: An Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Định, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cao Bằng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Điện Biên, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hậu Giang, Hòa Bình, Hưng Yên, Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Nam Định, Nghệ An, Ninh Bình, Ninh Thuận, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Phú Yên, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh.
 
Lưu ýĐể đặt hàng hoặc mua hàng quý khách hàng vui lòng liên hệ cho chúng tôi theo địa chỉ:
  • Showroom Hà Nội 136 Nguyễn Chí Thanh - Đống Đa - Hà Nội 
  • Showroom  Đà Nẵng128 Nguyễn Tri Phương - Thanh Khê - Đà Nẵng
  • Showroom  Hồ Chí Minh 524 B An Dương Vương P9 - Q5 - Hồ Chí Minh
  • Xưởng sx 1: Đại Đồng -  Văn Lâm - Hưng Yên
  • Xưởng sx 2: Gia Bình -  Bắc Ninh 
  • Xưởng sx 3: Ý Yên -  Nam Đinh 
  • Hotline0963.514.966 - 0963.523.786
  • Email: Mynghethanhphat@gmail.com
  • THÔNG TIN CHUYỂN KHOẢN
    Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Hoàn Kiếm, Hà Nội
    STK: 0011 00414 7709
    Chủ TK: Dương Văn Tầu
    Ngân hàng Agribank chi nhánh Văn Lâm, Hưng Yên
    STK: 2405 2050 78408
    Chủ TK: Dương Văn Lên
- Với khách hàng ở Hà Nội MIỄN PHÍ vận chuyển (free ship) trong phạm vi nội thành. 
- Với Khách hàng ở các tỉnh lân cận hoặc ở xa (Miền Trung, Miền Nam) Hàng sẽ được đóng kiện đảm bảo - Giao hàng tận nơi bằng đường chuyển phát của bưu cục - Khi nhận hàng khách hàng kiểm tra hàng hóa trước khi thanh toán tiền hàng và tiền CƯỚC cho nhân viên bưu cục. Hàng hóa KHÔNG đúng yêu cầu đặt hàng, khách hàng có quyền trả lại mà không phải chịu bất kỳ chi phí nào. 
ĐỒ ĐỒNG Thành Phát 
  * Giao hàng tận nơi 
  * Hỗ trợ tư vấn, lắp đặt 
  * Phục vụ 24/7 
  * Bảo hành dài lâu

 

 

Danh Mục Tham Khảo.

Tượng Đồng Phong thủy, Tượng Phật Bằng Đồng Để Ô TôTượng Danh nhân bằng đồngTượng Phật Bằng ĐồngTượng Phật Mạ Vàngđồ đồng.

 

THÔNG TIN KHÁCH HÀNG